Sau khi nhận được tin Johann Gottfried Galle xác định thành công vị trí của Sao Hải Vương dựa trên những tính toán của Urbain Le Verrier, John Herschel đã đề nghị William Lassell thực hiện quá trình tìm kiếm vệ tinh của hành tinh này. Chỉ 17 ngày sau khi Sao Hải Vương được tìm ra, vệ tinh lớn nhất của nó đã được phát hiện. Trong thần thoại Hy Lạp, Triton là con trai của thần Poseidons (tương ứng với thần Neptune trong thần thoại La Mã).

Ngày 10/10/1846, nhà thiên văn người Anh William Lassell đã khám phá ra Triton, vệ tinh lớn nhất của Sao Hải Vương - triton1 vg2 / Thiên văn học Đà Nẵng
Ảnh: Một trong những bức ảnh tàu Voyager-2 chụp Triton

Triton có bán kính khoảng 1353 km, nhỏ hơn Mặt Trăng một chút. Chu kỳ quay quanh trục và chu kỳ chuyển động xung quanh Sao Hải Vương của Triton bằng nhau và bằng 5 ngày 21 giờ Trái Đất. Tuy nhiên, Triton chuyển động trên quỹ đạo ngược với chiều quay tự của hành tinh mẹ (retrograde orbit). Thành phần chủ yếu của Triton là đá và nước dưới dạng băng. Bầu khí quyển của Triton rất loãng (áp suất bề mặt khoảng 0.01 milibar) với thành phần chủ yếu là nitơ và mêtan. Tàu thăm dò Voyager 2 đã phát hiện ra các hoạt động phun trào trên vệ tinh này. Các luồng khí nitơ lỏng, bụi và mêtan phun ra từ trong lòng Titan có thể đạt đến độ cao 8 km.

Tài liệu tham khảo:
[1]Today in Science History, 1999 – 2007. October 10 – Births, Deaths, Events, https://www.todayinsci.com/10/10_10.htm
[2]Wikipedia, 10/2007. Triton (moon), https://en.wikipedia.org/wiki/Triton_%28moon%29

Hero_Zeratul
Box Thiên văn học – ttvnol.com

Content Protection by DMCA.com